BỘ TỨ THƯƠNG HIỆU VANG BÓNG VIỆT NAM THỜI XƯA

ĐỒNG HỒ MẠ VÀNG (LẮC KÊ) LÀ XU HƯỚNG, PHỔ BIẾN NHẤT LÀ 10K VÀ 14K

Không như ngày nay, đồng hồ tông bạc chiếm một nửa khoảnh trời, ngày xưa, chỉ có đồng hồ tông vàng là thế độc tôn. Điều này âu cũng là hợp lý vì người Việt vốn chuộng phong cách thanh lịch, không ưa “khỏe khoắn”, tương tự như “Sự thật 1 – Chủ yếu là đồng hồ dây da, dây sắt rất ít gặp”.

Dù vậy, vẫn còn một nguyên nhân khác dẫn đến cái “gu” này đó chính là giá trị của đồng hồ. Như đã nói trên, đồng hồ đeo tay trong thời này rất đắt đỏ, vì thế, hầu hết mọi người sẽ mua để “làm của”, sau này để lại cho con cháu. Để an tâm, lựa chọn tất yếu phải là bằng vàng đặc hoặc ít nhất là có một lớp vàng dày.

Đến đây, có lẽ ta cần phải tìm hiểu thêm một ít về các loại đồng hồ tông vàng, chúng gồm có vàng đặc, lắc kê (lacquer – bọc vàng, rất dày, trước năm 70), mạ điện (lớp vàng mỏng dưới 10 micron, sau năm 70).

Đồng thời, tuổi vàng được dùng cũng không cố định, từ hạ cám (9k, 10k) đến thượng vàng (14k, 18k, 22k) đều có. Dĩ nhiên, lớp mạ càng dày (từ 20 micron trở lên), tuổi vàng càng cao thì giá càng đắt.

Thật éo le là dân mình lại chuộng đồng hồ Thụy Sĩ đắt tiền, danh vọng cao hơn là đồng hồ Nhật Bản. Vì thế không lạ khi những mẫu tuổi vàng 10k và 14k (lắc kê hoặc mạ, ít có đồng hồ bằng vàng đặc) đã chiếm phần lớn trong thế giới đồng hồ đeo tay cổ xưa nước ta.

Điểm qua một vòng những ông lớn tại Việt Nam từ 1950-1970, Omega, Longines, Wyler, Telda, Bulova, Movado, Benrus, Eterna, Titoni, Caravelle, Gruen, Hamilton, Elgin, Waltham, Wittnauer, … Chẳng có ông nào mà đồng hồ tông vàng các loại chiếm ít hơn 80% sản phẩm cả.

BỘ TỨ THƯƠNG HIỆU VANG BÓNG VIỆT NAM THỜI XƯA

Omega Seamaster 30 1962 (Ref 135.003-62-SC Cal-286)Omega Seamaster 30 1962 (Ref 135.003-62-SC Cal-286), 37mm, lắc kê vàng dày 40 micron

 

 

Có thể nói, suốt thập niên 50-70, đồng hồ đeo tay tông vàng, chính xác là “tông vàng kim” chứ không phải “tông vàng hồng” hay “vàng trắng” luôn là tiêu chuẩn cho một thiết kế Thụy Sĩ sang trọng, tao nhã ở Việt Nam, thậm chí là toàn thế giới.

Lại nói, đồng hồ tông bạc vẫn có chỗ đứng riêng, là lựa chọn rẻ hơn khi ông ta cha muốn sở hữu hàng hiệu, máy tốt (điển hình như Wyler, sản phẩm tông vàng và tông bạc tương đối đồng đều).

Dù vậy, vẫn câu nói cũ, chúng thường rẻ tiền hơn, là thiết kế cho quân đội, thể thao, chịu nước tốt, hoặc ít nhất là đại diện cho phong cách “ít thư sinh” hơn lúc bấy giờ.

 

Kiến thức về đồng hồ vàng

Liệu đồng hồ màu vàng có được mạ vàng thật

Bí mật kim loại vàng trong chế tác đồng hồ

Review: đồng hồ Orient SK 2019 có gì đặc biệt? So với SK 1970?

So sánh đồng hồ mạ vàng kim và vàng hồng

Sự thật về công nghệ mạ PVD đồng hồ mạ vàng

 

 

 

SỰ THẬT 3 – ĐỒNG HỒ NHẬT LÀ ĐỒ “RẺ TIỀN”, CHỈ THỢ VÀ LÍNH DÙNG VÌ NÓ BỀN

Dù rằng bây giờ đồng hồ Nhật đã có địa vị rất cao trong tâm trí người Việt nhưng vẫn có một sự thật không thể chối cãi rằng, trước năm 70, đồng hồ của họ là “hạ cấp”.

Tầng lớp trung lưu (trí thức, tiểu tư sản) Việt Nam trở lên không ai đeo đồng hồ của họ cả, đừng nói gì đến tầng lớp thượng lưu. Thậm chí, không quá đáng khi nói rằng đồng hồ Nhật rất rẻ nhưng người lao động phổ thông cũng chẳng hề thích chúng.

Nên biết rằng, không chỉ có “của rẻ là của ôi”, suy nghĩ đồng hồ Thụy Sĩ là nhất đã “thâm căn cố đế” trong lòng người Việt vốn nổi tiếng về độ chịu chơi từ lâu.

Những thứ rẻ hơn thì người ta sẽ nghĩ rằng nó kém tốt hơn, cộng thêm “tầng lớp” sử dụng thường là dân lao động, binh lính, đồng hồ Nhật bị khinh thường vào thời này là điều tất yếu.


Một chiếc Seiko Sportsmatic Sea horse Cal.7625D với dây kim loại nguyên bản (sản xuất trong giai đoạn 1960-1969) chính là điển hình của một chiếc đồng hồ Nhật phổ biến tại Việt Nam thập niên 60-70: thô, dày, tông bạc, dây kim loại, giá phải chăng

 

Quan điểm này chỉ có thể giải quyết bằng thời gian, chính bởi thế, sớm xuất hiện từ thập niên 60 nhưng đến thập niên 70 thì người Việt chỉ công nhận rằng nó bền. Rồi lại mất thêm 10 năm nữa, khi kinh tế khó khăn, đồng hồ Nhật mới có chỗ đứng, mới được xem là sang.

Quay lại với nguyên nhân dẫn đến đồng hồ Nhật thịnh hành, sau nhiều năm hoạt động, nó vẫn bền, rất bền, cực kỳ bền trong môi trường nhiệt đới ẩm khắc nghiệt như Việt Nam. Và lính Mỹ thì đang cần một thứ như vậy.

Thuở ban đầu, lãnh thổ Việt Nam vốn bị Mỹ và Pháp đóng quân dài hạn, vì thế, những thương hiệu nào được chuộng ở hai nước này cũng sẽ được đưa vào bán ở Việt Nam. Đồng hồ Nhật từng tìm cách xâm nhập qua nhiều con đường nhưng không thành công, vì sự bảo hộ vững chắc dành cho thương nhân, hàng hóa từ Mỹ, Pháp nói chung.

Ngay cả khi quân phiệt Nhật Nhật chiếm đóng Việt Nam năm 1940-1945, đồng hồ của họ cũng chẳng là cái đinh gì với đồng hồ Thụy Sĩ. Tất nhiên, đó là chưa nói đến giai đoạn này quân Nhật và Pháp đã trực tiếp gây ra nạn đi khủng khiếp năm Ất Dậu, 1944-1945 ở miền Bắc.

Mãi đến cuối thập niên 50, những cuộc chiến tại đây dần trở nên khốc liệt, đồng hồ quân đội Mỹ do chính phủ cấp không thể đáp ứng được yêu cầu về độ bền khi tham chiến do môi trường quá khắt nghiệt. Ngặt nỗi, lương lính thì khó lòng sắm được một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ đủ tốt cho chiến trường.

Do đó, lính Mỹ cấp thấp muốn có đồng hồ để dùng buộc phải mua hàng Nhật giá rẻ tại các trạm đóng quân. Ban đầu, họ chỉ quan niệm rằng những sản phẩm do châu Á làm ra thì sẽ phù hợp với môi trường châu Á hay đơn giản là cần mua gì đó làm kỷ niệm khi giải ngũ, đồng hồ Nhật có giá rẻ nên họ mua với tâm lý rất thoải mái.

Seiko 6105 1970 quân đội MỹSeiko 6105, một chiếc đồng hồ quân đội Mỹ sử dụng rất phổ biến tại miền Nam Việt Nam thập niên 70

 

Dần đà, chính những người lính này nhận ra được phẩm chất tuyệt vời của đồng hồ Nhật: bằng thép dày, gia cố chịu nước tương thích môi trường, máy khỏe, mà giá thì lại quá rẻ. Đó là chưa kể đến tính năng, hàng loạt mẫu chịu nước cho thợ lặn, giờ thế giới mà giá chỉ bằng ⅓ đồng hồ Thụy Sĩ tương đương.

Chỉ vài năm sau đó, đồng hồ Nhật ngập tràn trong quân đội Mỹ đang đóng quân tại Việt Nam. Chẳng mấy chốc đến tai người dân lao động phổ thông, những người đang phiền lòng về vấn đề làm sao để mua được đồng hồ và có chiếc đồng hồ nào đủ sức chịu đựng va đập, mồ hôi, nước, bụi đất.

Orient pháo binh King Diver 3 StarsMột chiếc Orient “pháo binh” thập niên 70 (biệt danh của các mẫu King Diver, Diver 3 sao, Crystal, … có chức năng “bezel lặn”), siêu to, dày, béo, khỏe

 

Cứ như thế, do nhu cầu, đối tượng sử dụng đồng hồ Nhật cổ xưa chủ yếu tại Việt Nam đó chính là lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng hòa, thợ xây, thợ máy… ở miền Nam.

Nổi tiếng trong giai đoạn 1960-1970 chính là: Orient pháo binh (King Diver, 3 sao) Orient World Diver, Seiko 6105, Seiko 6119, Seiko 6619, … con nào con nấy “dày to béo khỏe” (đường kính hơn 43mm, dày hơn 12mm).

Tuy nhiên, khoảng cuối thập niên 60 đến đầu thập niên 70, trong dân thường chỉ phổ biến dùng Seiko “hải cẩu”. Đây là sản phẩm được sản xuất chính cho giới viên chức văn phòng, giá không đắt đỏ.

Chúng gồm nhiều dòng khác nhau, có cả thiết kế thể thao nhưng các thiết kế thanh lịch vẫn chiếm số đông. Các “hải cẩu” tiêu biểu như Weekdater, DX, Selfdater, Seikomatic, Seikomatic-R, … Đặc trưng chung là có hình con hải cẩu ở nắp đáy, biểu thị khả năng chịu nước hằng ngày (2-3 ATM ngày nay).

Seikomatic Sea Lion M44 "hải cẩu 1970Một chiếc Seiko Seikomatic Sea Lion M44 “hải cẩu” mạ vàng khoảng năm 1970

 

Nói đồng hồ Nhật “kém sang” hơn Thụy Sĩ không hẳn là nói gàn, định kiến.

  • Từ thực tế thiết kế bộ máy cho đến lớp mạ vàng, phần lớn thương hiệu Thụy Sĩ đều làm rất chỉn chu. Bộ máy toàn diện: hoạt động, chức năng, vẻ đẹp, độ bền; bọc vàng, mạ vàng dày.
  • Ngược lại máy Nhật thường cắt giảm đi một số tính năng, lớp mạ mỏng hơn (vì thế, thời kỳ bao cấp mới có nghề tách vàng từ vỏ đồng hồ Thụy Sĩ cũ trong thập niên 80, 80 ở Việt Nam)”

Sau năm 75, dòng Seiko hải cẩu càng được yêu mến rộng hơn do giá cả hợp lý, mẫu mã đẹp. Đến năm 1980-1990, dù là mẫu mã cũ nhưng sự thịnh hành của chúng đã lấn lướt hàng Thụy Sĩ.

Riêng miền Bắc, trong cả trong nhân dân và quân đội, độ phủ sóng của đồng hồ Nhật thập niên 60-70 vẫn chưa cao, thay vào đó là đồng hồ Liên Xô.

 

https://casiovietnam.net/dong-ho-nam-casio-mtp-vd01l-2bvudf-day-da-mau-xanh-nen-mat-mau-xanh-kim-da-quang

https://casiovietnam.net/dong-ho-nam-casio-mtp-vd01sg-9bvudf-day-kim-loai-ma-vang-nen-mat-mau-vang-kim-da-quang

https://casiovietnam.net/dong-ho-nam-casio-mtp-vd01sg-1bvudf-day-kim-loai-ma-vang-nen-mat-mau-den

 

Cũng như đồng hồ Nhật, đồng hồ Liên Xô du nhập vào nước ta đều là loại “siêu to khổng lồ”, bền chắc như cái cối, tuy nhiên, đó lại là câu chuyện khác, xin phép bỏ ngỏ trong bài này.

Vostok Komandirskie năm 1970Một số đồng hồ Vostok Komandirskie năm 1970, phổ biến ở miền Bắc, chúng to như cái cối và xấu theo quan niệm thời xưa

Reply